Skip to main content
VI EN

Hình ảnh chư Tăng Tây Tạng thuộc tu viện Drepung Loseling tại Ấn Độ hoằng pháp tại Liên Hoa Ni Tự

Hình ảnh chư Tăng Tây Tạng

kiến tạo Mạn Đà La

Phật A Di Đà và lễ cầu siêu, lễ xoá Mạn Đà La tại Liên Hoa Ni Tự

MẠN ĐÀ LA

Ý NGHĨA VÀ SỰ LỢI LẠC KHI CHIÊM BÁI MẠN ĐÀ LA

Mai Thy & Không Quán ghi chép và dịch thuật

Tháng bảy, 2014

1. Mở đầu:

Tháng bảy năm 2014, phái đoàn chư tăng Tu Viện Drepung Loseling bao gồm Sư Trưởng Gyalrong Khentul Rinpoche và 10 vị tăng đã công du qua Hoa Kỳ hoằng hoá Phật pháp và quyên góp tịnh tài để nuôi nấng một tăng đoàn gồm hơn 7000 vị, có khi lên đến 10 000 vị, trong đó có rất nhiều tăng sĩ còn rất trẻ và sau này sẽ là những tăng sĩ có nhiều tiềm năng tương lai thành tựu.

Khentul Rinpoche là một vị hoá thân (Tulku) đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma công nhận là hoá thân tái sinh của vị Viện Trưởng của Tu Viện Drepung Loseling thành lập từ năm 1950. Vì là một hoá thân nên từ nhỏ, Rinpoche đã được huấn luyện đặc biệt trong một chương trình đào tạo chư vị hoá thân. Năm 2009, Khentul Rinpoche đã thành tựu cấp bậc cao nhất trong dòng truyền thừa Gelugpa (Hoàng Mạo) là đã thi đậu cấp bậc Geshe Lharampa (cấp bậc Thánh giả) do Đức Đạt Lai Lạt Ma chủ toạ kỳ thi sát hạch.

Từ đó, Rinpoche đã hoằng hoá và giảng dạy Phật pháp trong Tu Viện.

Trong chuyến hoằng hoá Phật pháp tại Hoa Kỳ này, Rinpoche đã lãnh đạo phái đoàn chư tăng 10 vị đi khắp nơi thuyết pháp và nhất là tạo Mạn Đà La. Tu Viện Drepung Loseling là một Tu Viện nổi tiếng nhất về khả năng kỳ diệu tạo dựng Mạn Đà La, có thể nói là thông thạo nhất về kiến tạo Mạn Đà La, trong bốn đại Tu Viện của dòng truyền thừa Gelugpa.

Vì thế, Rinpoche đã ban những thời thuyết pháp để giảng tóm lược về “Ý Nghĩa của Mạn Đà La và sự Lợi Lạc khi có duyên may thù thắng để chiêm bái Mạn Đà La”, bởi vì trong chuyến hoằng pháp này, chư tăng đã tạo Mạn Đà La Phật A Di Đà tại chùa Liên Hoa Ni Tự, 6233 Fairbanks Rd, Las Vegas, NV 89103 và tạo Mạn Đà La Phật Dược Sư tại chùa Ưu Đàm, 7255, West Meranto, Las Vegas, NV, 89178.

2. Ý Nghĩa của Mạn Đà La:

2.1 Ý nghĩa thứ nhất:

Trước hết, Rinpoche thuyết giảng Mạn Đà La là một công trình kiến tạo nghệ thuật cực kỳ mỹ thuật dưới mắt của người đời thế gian. Nhưng nếu chỉ chiêm ngưỡng Mạn Đà La theo con mặt nghệ thuật của thế gian thì chúng ta đã bỏ uổng cơ hội vàng ròng để tu tập và hành trì quán tưởng vô cùng lợi lạc để được sự gia trì của Phật và vãng sinh Tịnh độ.

Muốn được như thế, chúng ta trước tiên phải hiểu rõ ý nghĩa của Mạn Đà La và công trình kiến tạo Mạn Đà La như thế nào.

Mạn Đà La được tạo thành từ những cát mịn nhiều màu sắc. Các cát này có được là do nghiền các đá quý nhiều màu sắc thành những hạt cực mịn. Để sử dụng được các cát này trong Mạn Đà La, chư tăng phải mất nhiều giờ để trì tụng các kinh và chú để chú nguyện vào trong các cát đó rồi mới sử dụng các ống đồng dài để rắc cát đó vào trong các vòng tròn và tạo thành các hình tượng trong Mạn Đà La.

Như thế, tạo Mạn Đà La và cầu nguyện trì chú để chú nguyện và thỉnh Phật và chư tôn thánh chúng thị hiện vào trong Mạn Đà La là phần chủ yếu. Thành tựu cầu nguyện thỉnh Phật và chư thánh chúng thị hiện trong Mạn Đà La là phần cốt yếu…

Qua các hình chụp lại, chúng ta thấy ở nơi trung tâm của Mạn Đà La là hình tượng của đức Phật chính thị hiện (của Mạn Đà La đó, thí dụ như nếu là Mạn Đà La Phật A Di Đà thì là đức Phật A Di Đà ở nơi trung tâm). Đôi khi tại nơi trung tâm thay vì là hình tượng của đức Phật chính thì chư tăng tạo một biểu tượng của vị Phật chính….thí dụ như trong trường hợp Mạn Đà La của Phật Dược Sư, thì ở nơi trung tâm là hình tượng của cuốn kinh Dược Sư thị hiện, tượng trưng cho đức Phật Dược Sư.

Đức Phật chính ở trong chính trung ương và trụ trong cung điện của Ngài. Cung điện bao gồm một toà nhà có bốn cửa đông tây nam bắc, mỗi cửa được trấn bởi một vị Phật…Cung điện này chính là cõi Tịnh độ của vị Phật chính đó hoá hiện trong Mạn Đà La. Cung điện này không phải được cấu tạo từ những vật chất tầm thường của thế gian, mà đó chính là các cảnh giới của Phật thị hiện trong Mạn Đà La.

Bao quanh cung điện là ba vòng bảo hộ. Vòng thứ nhất là vòng tròn nhiều hoa sen. Hoa sen tượng trưng cho sự vô nhiễm, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Có nghĩa là tâm xả ly thế gian. Vòng tròn thứ hai là vòng của rất nhiều chuỳ kim cang, tượng trưng cho sự bất hoại của Bồ Đề Tâm, kiên cố, đạt giác ngộ để cứu độ mọi chúng sinh hữu tình. Vòng tròn thứ ba ngoài cùng là một vòng lửa tam muội bảo vệ Mạn Đà La, tượng trưng cho chân tánh của vạn pháp, đó chính là Tánh Không.

Bởi vì Tánh Không là chân tánh của vạn pháp và từ Tánh Không mà khởi ra vạn pháp….”Chân Không Diệu Hữu”. Tánh Không nói trên là tánh của các pháp. Còn Chân Không nói trên là thể của các pháp. Từ chân tâm mới có diệu hữu. Diệu hữu tức là những sự mầu nhiệm khi đạt được chân tâm. Như vậy Chân Không là tâm thể của mình. Còn Tánh không, đó là thể tánh của muôn pháp. Tánh không duyên hợp sinh ra muôn pháp hư giả không thật. Chân Không là tâm thể bất sanh bất diệt mà có diệu dụng hay sanh muôn pháp, nên gọi là diệu hữu. Vì vậy chư Phật mới có vô số phương tiện, vô số thần thông, đều từ Chân Không mà ra. Ngay từ diệu hữu đó mà khởi lên Pháp thân của chư Phật. Và Phật A Di Đà cũng chính là Pháp thân của tất cả chư Phật, đều bao gồm trong Pháp thân của đức Phật A Di Đà.

Do đó, từ vòng lửa Tánh Không này khởi lên Pháp thân của đức Phật chính của Mạn Đà La, thị hiện ở trung ương của cung điện của Mạn Đà La.

Các màu ngũ sắc trong Mạn Đà La tượng trưng cho Ngũ Lực tăng trưởng cho sự hành trì của người hành giả chiêm bái Mạn Đà La.

Đó là ý nghĩa của Mạn Đà La được tóm lược ở mức độ thứ nhất.

2.2 Ý nghĩa thứ hai:

Ý nghĩa ở mức độ thứ hai là sự hành trì khi chiêm bái Mạn Đà La.

Bởi vì như đã nói trên, Mạn Đà La chính là Pháp thân hiện tiền của chư Phật trong ba đời mười phương qua vị Phật chính của Mạn Đà La, cho nên phải có chủng tử của thiện nghiệp, duyên lành tích luỹ từ nhiều đời mới có được duyên may thù thắng chiêm bái Mạn Đà La này.

Do đó, khi chiêm bái Mạn Đà La, chúng ta phải giữ Thân Khẩu Ý thanh tịnh để quán tưởng thành tựu tiếp nhận sự gia trì của chư Phật và Thánh chúng trong Mạn Đà La.

Sự gia trì này, ngoài công năng đưa ta khi chết được tái sinh vào cõi Tịnh độ của đức Phật, còn có công năng chữa lành bệnh tật khi chúng ta giữ Thân Khẩu Ý thanh tịnh đi nhiễu vòng quanh Mạn Đà La và trì chú của vị Phật trụ trong Mạn Đà La.

Khi chiêm bái Mạn Đà La, ta phải quán tưởng được đức Phật nắm tay dẫn đi vào cửa của Mạn Đà La và rút cục đi vào trong cung điện trung ương và thể nhập hoà tan vào trong vị Phật chính, tức là thể nhập, hoà tan vào trong Pháp thân của Phật.

Như vậy sẽ được lợi lạc của sự gia trì và sẽ thành tựu viên mãn quả vị Phật khi lìa đời và ở giây phút đó, quán tưởng đức Phật thị hiện dẫn dắt ta đi vào trong cảnh giới của Phật tức là Mạn Đà La đã chiêm bái và gieo chủng tử trong Tạng thức của mình khi còn tại thế.

Một lần có duyên may chiêm bái Mạn Đà La là sẽ tiêu trừ được vô lượng nghiệp chướng trong Tạng thức của người hành giả khi quán tưởng và trì chú đi nhiễu đúng cách chung quanh Mạn Đà La đó.

3. Lễ Xóa Mạn Đà La:

Sau cùng, chư tăng sẽ cử hành lễ xoá Mạn Đà La. Vị Sư Trưởng chủ lễ sẽ dùng tay để kẻ những bốn đường thẳng phân Mạn Đà La ra bốn phần, rồi kẻ thêm bốn đường phụ, trước khi xoá Mạn Đà La và gom lại thành một khối. Khi kẻ đường phân Mạn Đà La, vị Sư Trưởng chủ lễ cũng chú nguyện, với sự chánh niệm nguyên sơ của vị Phật chính, và chú nguyện đưa tất cả kinh điển vào trong các đường kẻ đó và khi xoá, gom cát chung lại thì ý nghĩa là trong các cát đó có đầy đủ các kinh điển thu gồm vào trong các cát ngũ sắc đó.

Như vậy cát gom lại sẽ cực kỳ linh thiêng và có công năng đưa hành giả khi chết vãng sinh Tịnh độ.

Xoá Mạn Đà La còn mang ý nghĩa là, tất cả mọi sự, mọi pháp của thế gian đều là vô thường. Hễ có sinh là phải có diệt. Khi chiêm bái lễ xoá Mạn Đà La, ta phải quán tưởng sự vô thường.

Chư tăng sau đó sẽ ban phát các cát trân quý đó cho Phật tử mang về nhà để thờ. Khi hữu sự, nghĩa là khi thân nhân, bạn đạo, hoặc bất kỳ ai lâm chung, chúng ta có thể rắc cát đó trên đảnh đầu của họ, hoặc trong miệng của họ. Lúc đó, thần thức người chết sẽ được đưa vãng sinh nơi cõi Tịnh độ của vị Phật chính trụ trong trung ương của Mạn Đà La đó.

Công năng của cát Mạn Đà La, thực sự là vô cùng, bất khả tư nghì.

4. Phụ Lục:

4.1 Mạn Đà La Phật A Di Đà do chư tăng Drepung Loseling tạo.

4.2 Mạn Đà La Phật Dược Sư do chư tăng Drepung Loseling tạo.

4.3 Mạn Đà La của Phật Quán Thế Âm do chư tăng Drepuung Gomang tạo và chú giải trực tiếp các ý nghĩa trên đồ hình.

4.1

4.2

4.3

4.3